su pham qui nhon Home Giới thiệu

Thành Nhà Hồ Di Sản Văn Hoá Thế Giới

.

Thành Nhà Hồ Di Sản Văn Hoá Thế Giới

 Thành Nhà Hồ Di Sản văn Hoá Thế Giới  Chào mừng Quý vị ghé thăm Website

Thành Nhà Hồ (Thành do Hồ Quý Ly xây dựng năm 1397) còn gọi là  thành Tây Đô hoặc  Tây Kinh (kinh đô phía Tây Đại Việt),  thành An Tôn (thành ở khu vực động An Tôn thời Trần),  thành Tây Giai (vì ở phía Tây thuộc địa phận thôn Tây Giai), Thạch Thành (tòa thành xây dựng bằng đá), Thành Nội (vòng thành quan trọng bên trong La Thành) thuộc địa phận 2 xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Tòa thành là một chứng tích kỳ vĩ và duy nhất về lịch sử và văn minh Đại Việt (cuối thế kỷ 14-đầu thế kỷ 15)...

Thành Nhà Hồ là tên thường gọi của tòa thành bằng đá còn khá nguyên vẹn giữa vùng đồng bằng lưu vực sông Mã và sông Bưởi, thuộc địa phận các thôn Tây Giai, Xuân Giai (xã Vĩnh Tiến), Đông Môn (xã Vĩnh Long), huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, thuộc miền Bắc Việt Nam.


Thành còn có tên gọi khác như: thành An Tôn vì khu vực này vào cuối thời Trần có tên là động An Tôn, thành Tây Đô vì thành là kinh đô của nước Đại Việt (1397-1400) và Đại Ngu (1400 - 1407); thành Phủ Thanh Hoá do nhà Minh đặt sau khi chiếm Đại Việt, Tây Kinh để phân biệt với Đông Kinh (Thăng Long), Thạch Thành vì thành được xây toàn bằng đá, thành Tây Giai vì thành thuộc thôn Tây Giai( ). Thành cách thủ đô Hà Nội 150km về phía Nam, cách thành phố Thanh Hóa khoảng 45km về phía Tây - Bắc. Từ Hà Nội, theo quốc lộ 1A tới thành phố Thanh Hóa. Sau đó, có thể theo tỉnh lộ số 45 để tới khu di tích. Nếu dùng đường thủy, có thể từ biển theo sông Lèn hay sông Mã vào hoặc từ các huyện miền núi Quan Hóa, Bá Thước cũng theo sông này xuôi xuống.

Bản đồ vị trí thành nhà Hồ.


Thành Nhà Hồ
được xây dựng vào năm 1397, theo lệnh của Phụ chính Thái sư nhiếp chính nhà Trần là Hồ Quý Ly( ). Cùng năm đó Hồ Quý Ly cho di chuyển kinh đô từ thành Thăng Long (Hà Nội) vào Thành Nhà Hồ (Thanh Hoá). Khu di tích Thành Nhà Hồ bao gồm một phức hợp các thành phần kiến trúc được xây dựng có tính toán, kết hợp giữa các kiến trúc nhân tạo với hình thế tự nhiên, để đảm bảo chức năng làm một kinh đô mới thay cho kinh đô Thăng Long.
Năm 1400, với sự đăng quang của Hồ Quý Ly, lập ra triều đại Hồ, Thành Nhà Hồ trở thành quốc đô, nước Đại Việt được đổi tên thành Đại Ngu. Đến năm 1407, cùng với sự thất bại trong việc chống lại cuộc xâm lược của nhà Minh, Thành Nhà Hồ thất thủ, cha con Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương cùng triều đình Đại Ngu bị quân nhà Minh bắt. Kể từ đó, Thành Nhà Hồ không còn vai trò là kinh đô nữa.

Ngày nay, sau hơn 600 năm thăng trầm của lịch sử, tòa thành vẫn hiện diện uy nghi với các tường thành và cửa thành còn khá nguyên vẹn. Các kết quả khai quật khảo cổ học đã bước đầu làm xuất lộ nhiều thành phần kiến trúc của kinh đô cổ này. Ngoài thành trong với tường thành có hào nước bao quanh, dấu tích của các cung điện, đền miếu của vương triều bên trong, phức hợp di sản Thành Nhà Hồ còn có La thành và Đàn tế Nam Giao.

Thành Nhà Hồ (thành trong)
  Tên gọi Thành Nhà Hồ ngoài việc chỉ chung toàn bộ phức hợp di sản, còn là tên thường gọi của tòa thành bằng đá nằm ở trung tâm. Tên gọi Thành Nhà Hồ cũng có nghĩa là tòa thành đá hay thành trong theo quy hoạch kinh thành kiểu Đông Á. Với tư cách là cung thành của một kinh đô, Thành Nhà Hồ đã được thiết kế rất công phu và được xây dựng vững chắc, kiên cố. Thành có bình đồ gần vuông, mặt chính quay về hướng Đông Nam, với đường trục chính theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, lệch Bắc 450. Hai tường thành phía Nam và phía Bắc dài 877,1m và 877m, hai tường thành phía Đông và phía Tây dài 879,3m và 880m, Thành có chu vi 3513,4m và diện tích 769.086m2 (khoảng 77 ha).

Thành có 4 cửa, được mở ra từ chính giữa của bốn bức tường thành. Mặc dù trục chính của thành không theo đúng hướng Bắc Nam, các cửa này vẫn được gọi tên theo bốn hướng chính: Cửa Bắc, Cửa Nam, Cửa Đông, Cửa Tây. Hiện nay, hai con đường trục chính nối giữa Cửa Bắc với Cửa Nam và Cửa Đông với Cửa Tây, gặp nhau tại tâm điểm của tòa thành. Qua khỏi các cửa, các con đường này tiếp tục tỏa về bốn phía. Trừ con đường đi về phía Bắc hơi lệch về hướng Tây Bắc, các con đường khác đều thẳng theo hai trục chính trong nội thành. Dấu tích khảo cổ học của con đường chạy về hướng Nam cho thấy đây cũng là hướng đi của con đường cổ đi tới đàn Nam Giao trên núi Đốn Sơn.

Hình 1: Bình đồ và các thành phần kiến trúc chính của thành trong



Từ hiện trạng còn gần như nguyên vẹn của tòa thành và các kết quả nghiên cứu khảo cổ học trong những năm gần đây, bước đầu có thể xác định được những thành phần kiến trúc cơ bản của Hoàng Thành gồm: Tường thành, hào thành, cửa thành, dấu tích các hồ nước và kiến trúc bên trong.
1. Tường thành và hào thành

     Hình 02 Đoạn tường thành phía Nam

     Hình 03 Góc thành phía Đông Bắc

 
Từ bên ngoài, có thể thấy toàn bộ các bức tường của tòa thành được xây bằng các khối đá khổng lồ có hình khối chữ nhật hoặc gần vuông, xếp không trùng mạch theo hình chữ “I”. Trên thực tế, tường thành được cấu tạo bởi ba lớp gắn kết chặt chẽ với nhau bằng một kỹ thuật xây dựng đặc biệt:

     Hình 04: Một đoạn tường thành phía Đông


  Lớp ngoài:
tường thành được xây dựng bằng “những khối đá vôi to lớn, được đẽo gọt và ghép một cách tài tình”. Tất cả các khối đá xây được đẽo gọt công phu thành các khối vuông thành sắc cạnh, với kích thước trung bình 2,2 x 1,5 x 1,2m, cá biệt có khối có kích thước tới 4,2 x 1,7 x 1,5m và 5,1 x 1 x 1,2m. Những khối đá lớn nhất nặng tới khoảng 26,7 tấn. Nhìn từ mặt ngoài, từng khối đá này được lắp ghép chồng khít lên nhau theo phương thẳng đứng, hơi thu nhỏ phía trên kiểu “thượng thu, hạ thách”. Kỹ thuật này thể hiện rõ nhất là ở các điểm bắt góc của thành. Những khối đá to lớn nhất được xếp dưới thấp, càng lên cao, kích thước của chúng càng giảm đi. Các khối đá có kích thước to lớn nhất được thấy ở các bức tường phía Tây, phía Nam và phía Đông. Trong khi ở phía Bắc chúng có kích thước nhỏ hơn, do vậy số lượng các hàng đá cũng lớn hơn.

  Ở mặt bên trong, các khối đá này được chèn nối tiếp kiểu “nanh sấu”, liên kết chặt chẽ với nhau bằng các khớp, ăn sâu vào trong lõi tường tới khoảng 4m. Đá dăm trộn chất kết dính được đổ đầy vào các khoảng trống của những khối đá này. Với kĩ thuật đa dạng như vậy, các khối đá liên kết với nhau rất chắc chắn theo chiều ngang và chiều dọc, giữa lớp trong và lớp ngoài bằng khớp, giữa lớp trên với lớp dưới bằng sức nặng. Để đảm bảo độ vững chắc của tường thành người ta đã tạo chân móng tường bằng cách kè các khối đá tảng lớn chìa rộng hơn tường thành. Mặt trên của các tảng đá kè móng được đẽo bằng phẳng, các mặt khác vẫn còn nguyên vỏ đá tự nhiên, sau đó xếp đặt đá xây tường thành lên trên. Bên dưới lớp đá tảng này, lại được đầm nện chặt bằng các lớp đất sét trộn sỏi và đá dăm, dày ít nhất là 70cm, như có thể quan sát trong một hố khai quật năm 2008 ở Cửa Nam.


     Hình 05: Kỹ thuật gia cố lõi tường thành



Lớp giữa
(lõi tường) được đắp bằng đá mồ côi (các khối đá rời tự nhiên), chèn ốp bên trong theo từng lớp đá bên ngoài.
Lớp trong là lũy đất đắp bằng đất sét trộn cát sỏi, nện kỹ từng lớp, có độ dốc thoải dần vào phía trong thành. Cứ dày khoảng 60cm - 70cm lại có một lớp cát mỏng trộn với sỏi.

Đại Việt sử ký toàn thư cũng cho biết, vào năm Tân Tỵ (1401)“Hán Thương hạ lệnh cho các lộ nung gạch để dùng vào việc xây thành. Trước đây xây thành Tây Đô, tải nhiều đá tới xây, ít lâu sau lại bị sụp đổ, đến đây mới xây trên bằng gạch, dưới bằng đá”. Mặc dù các dấu tích hiện tại chưa cho biết gạch đã được dùng cho việc xây thành như thế nào, từ những viên gạch hình khối chữ nhật to lớn được thu thập khá nhiều trong nhân dân, các nhà khoa học cho rằng có thể có những ụ bắn bằng gạch được xây trên tường thành. Toàn bộ các bức tường khổng lồ của Thành Nhà Hồ mặc dù đã bị các biến động của thiên nhiên và xã hội 6 thế kỷ qua hủy hoại khá nhiều. Tuy nhiên một số đoạn tường thành vẫn còn cao trung bình từ 5m đến 6m, có nơi cao tới 10m (Cửa Nam).

 Mặt thành còn rộng chừng 4 - 5m, thoải dần vào phía trong. Tại một điểm ở thành phía Đông, độ dày đo được dưới chân bức tường thành là 21,365m. Để hoàn chỉnh công trình này, con số ước tính hơn 100,000m3 đất đã được đào đắp, hơn 20,000m3đá, trong đó có nhiều khối đá nặng trên 20 tấn đã được khai thác, vận chuyển và lắp đặt. Bao quanh các bức tường thành đồ sộ là hệ thống hào thành, như thường thấy ở các tòa thành Đông Á. Lưu Công Đạo (thế kỉ XIX) mô tả hào thành của Thành Nhà Hồ như sau: “Hệ thống hào còn được gọi là trì, trì rộng 36 tầm, bốn cửa đều có cầu đá vào thành”. Ngày nay, nhiều phần của hào thành đã bị lấp cạn. Tuy nhiên, vẫn có thể nhận thấy rất rõ dấu tích của hào thành ở phía Bắc, phía Đông và một nửa phía Nam (đầu phía Đông) của thành. Hào thành cũng được nhận thấy nối thông với sông Bưởi qua một con kênh ở góc Đông Nam của thành.

Hiện trạng hào nước còn nhận thấy khá rõ ở một số đoạn.

Hào phía Nam bị bồi lấp, hình dạng hào không rõ. Khoảng cách từ hào đến tường thành khoảng 65m - 70m, và các khu vực này nay là các thửa ruộng sâu có độ thấp hơn xung quanh 0,8m. Giáp với hào là đất thổ cư của dân làng Xuân Giai.

 Hào phía Bắc nằm cách tường thành khoảng 70m, khoảng cách từ tường thành đến hào còn nhiều tấm đá xây thành nằm rải rác và trong ruộng lúa sát chân thành.

 Hào phía Đông nằm cách tường thành khoảng 100m, hai bờ hào trồng nhiều bụi tre, và nhiều loại cây cối khác. Khoảng cách từ tường thành đến hào chủ yếu là nơi dân cư làng Đông Môn sinh sống.
 
Hào phía Tây nằm cách tường thành 120m, vết tích hào nằm trong ruộng lúa lún sâu khoảng 0,8m. Trong khoảng cách này, dân cư làng Tây Giai sinh sống và trồng lúa. Mặt hào rộng nhất còn nhận thấy ở phía Tây là 19,09m, ở phía Nam là 18,18m. Ở hai phía Bắc và phía Đông, hào còn rộng 12,18m và 10,67m.

     Hình 06: Hiện trạng của các đoạn hào nước


2. Các cửa thành và hệ thống đường đi

Các cửa thành
Thành Nhà Hồ có 4 cửa: Cửa Nam, Cửa Bắc, Cửa Đông và Cửa Tây. Các cửa thành đều được mở ở chính giữa tường thành và được xây theo kiểu vòm cuốn, có kỹ thuật xây dựng tương đối giống nhau: bên dưới đặt những khối đá lớn làm nền, các khối đá hình chữ nhật xếp bên trên tạo thành thân cửa. Phần vòm cửa được xây bằng các viên đá được chế tác hình múi bưởi (hay hình thang cân), tạo nên phần vòm cuốn hình bán viên. Các cửa này được xây, xếp với độ chính xác cao tạo nên nét đặc sắc của tòa thành. Trong 4 cửa, Cửa Nam được xây dựng lớn nhất, mở ba vòm cửa, còn các cửa khác chỉ có một vòm.

Cửa phía Nam  (còn gọi là cửa Tiền) dài 34,850m, độ cao hiện còn từ mặt nền hiện tại 7,65m, dày 15m, được xây thành 3 vòm cuốn, vòm giữa cao 8,5m, rộng 5,850m hai vòm bên cao 7,8m, rộng 5,455 và 5,470m (Hình 27, 28). L. Bezacier nhận xét “Cửa phía Nam kiểu tam quan, vòm trung tâm, quan trọng hơn hai cửa bên một chút. Cửa tam quan này và các cửa ở mặt khác xây dựng toàn bằng đá được đẽo gọt rất khéo... Các cửa này hơi nhô lên trên tường thành, do các vòm hình bán nguyệt với đá xây trụ vòm hơi nghiêng có cải tiến. Các vòm này hình thành gồm những viên đá xây cuốn rất quan trọng...” .

     Hình 07: Cửa Nam nhìn từ phía Bắc



Kết quả khai quật khảo cổ học tại Cửa Nam cho thấy móng chân vòm cuốn cửa thành sử dụng các khối đá xanh lớn, chờm ra khỏi chân trụ. Có viên chờm ra rộng 0,98m, dày 0,74m, dài khoảng 2,3m. Các dấu tích hèm cửa hình chữ nhật, rãnh cửa trên tường và dưới nền (bên trong còn rơi rớt các đinh sắt có mũ tròn), và hai cối cửa hình tròn trên mặt nền, gợi ý các cửa vòm đều có khung cửa gỗ với hai cánh mở vào bên trong.  Các hàng đá xây tiếp tục trên nóc các vòm cuốn tạo thành một mặt nền, hiện không còn nguyên vẹn, rộng 14m và dài 33m. Dấu vết hệ thống lỗ chốt cắm lan can và 5 lỗ chân cột được đục sâu xuống mặt nền, cùng với nhiều di vật kiến trúc như gạch, ngói, các trang trí bằng đất nung và đá phát hiện trong các hố khai quật cho thấy bên trên cửa đá có một kiến trúc kiểu “vọng lâu”có kết cấu khung gỗ lợp ngói trên mặt cửa.   Xung quanh vọng lâu này có hệ thống rãnh thoát nước đục vào đá nền và đổ ra bốn góc nền bằng bốn máng nước. Máng nước còn có lỗ mộng có thể là để lắp đầu máng nước hình đầu rồng bằng đá. Những lỗ hình chữ nhật được đục vào đá chạy dọc theo mép ngoài của nền cho thấy có thế có một lan can bao quanh.

Cửa phía Bắc dài 21,342m, cao còn 8,098m, sâu 13,55m tạo một vòm cuốn cao 5,425m, rộng 5,80m. Trên nóc vòm cuốn lát đá tạo một mặt bằng rộng 12,7m, dài 20m. Trên mặt nền hiện còn dấu tích 22 lỗ chân cột tròn có đường kính 0,45m và đục sâu xuống nền đá 0,45m, đó là chân cột của một công trình kiến trúc rộng khoảng 97m2, có kết cấu khung gỗ kiểu 3 gian 2 chái, 6 vì. Mỗi vì có 4 cột, trừ hai vì gian giữa chỉ có 3 cột. Mặt trong của công trình gỗ này có một hành lang được tạo bởi những lỗ cột vuông, cạnh dài 0,11m và đục sâu xuống nền đá 0,07m. Giữa các lỗ cột có ngách nối thông nhau và nối ra tường ngoài nhằm liên kết các cột gỗ với nhau và với nền đá. Trên mặt thành cũng có hệ thống rãnh thoát nước, máng nước và hệ thống chân cột lan can giống Cửa Nam.


     Hình 08: Cửa Bắc 


Cửa phía Đông
dài 23,3m, sâu 13,4m, rộng 5,8m, vòm cuốn chiều cao còn lại 6,8m. Các phiến đá trên nóc cửa và hai bên cánh bị vỡ nhiều. Vẫn còn nhận thấy dấu vết hèm cửa.

 

Hình 09: Cửa Đông

Cửa phía Tây dài 19,3m, sâu 13,4m, rộng 5,7m, vòm cuốn cao 6,16m.

Hình 10: Cửa Tây


Hệ thống đường đi

  Theo các tài liệu sử học, các đường phố đã được bố trí quy củ cho việc đi lại trong thành. Lịch triều hiến chương loại chí (thế kỷ XIX) miêu tả: “đường đi lối ngang lối dọc đều được lát đá hoa( ). Từ Cửa Nam, một con đường, cũng là trục chính của kinh thành chạy thẳng lên phía Cửa Bắc mà dấu tích đã bắt đầu xuất lộ. Về phía Nam, con đường này chạy tới đàn Nam Giao (được xây dựng năm 1402) trên núi Đốn Sơn. Theo truyền thuyết dân gian, Hồ Qúy Ly còn cho xây dựng con đường Cống Đá để vận chuyển vật liệu từ sông Mã vào xây dựng thành. Dấu tích của con đường này được nhận thấy bằng việc phát hiện các khối đá lớn dùng để lát đường trên con đường từ cuối thôn Tây Giai tới thôn Thọ Đồn ở phía Tây thành. Trục đường chính, phần ở khu vực Cửa Nam của thành, được thư tịch cổ gọi là đường Cái Hoa, Hoa Nhai hay Hòe Nhai. Cuộc khai quật ở khu vực cửa thành phía Nam vào năm 2008 đã phát hiện dấu tích của con đường cổ chạy từ trong thành, qua Cửa Nam về núi Đốn Sơn. Phần đường bên trong thành cũng được lát toàn bằng đá xanh nguyên khối. Phần đường bên ngoài thành được lát bằng đá phiến nhiều cỡ và bó vỉa bằng đá xanh nguyên khối. Những viên đá phiến có bề mặt được mài nhẵn, các cạnh được mài cắt thẳng. Một số viên có kích thước lớn, dài tới 2,5m hoặc 2,7m, rộng tới 50cm - 60cm. Lòng đường trong nội thành rộng 4,85m, bên ngoài thành rộng 4,35m.  Phần nền đường bên trong cửa được làm cao hơn bên ngoài 10cm và lát bằng các khối đá lớn hình chữ nhật, phần lớn đã bị rạn vỡ do việc làm đường gần đây. Những dấu tích này chứng minh rõ đây chính là con đường chính trong thành và cũng là con đường lát đá dẫn đến đàn Nam Giao trên núi Đốn Sơn như sử sách đã nói. Dọc con đường từ Cửa Nam đến núi Đốn Sơn hiện nay, quá trình xây dựng đã làm xuất lộ rất nhiều phiến đá dùng để xây con đường cổ này. Cũng liên quan tới Cửa Nam và con đường cổ ở khu vực này, dấu tích của các khoảng sân lát đá đã được phát hiện cả ở bên trong và bên ngoài thành. Sân thấp hơn nền đường 15cm, chiều rộng từ mép đường ra là 15m, được bó bên ngoài bằng các viên đá xanh hình khối hộp chữ nhật. Phần sát chân tường thành và tường cửa thường cao hơn và được lát phủ lên các khối đá xanh bên dưới. Đá lát sân có nhiều cỡ và được ghép không theo quy luật nhất định, miễn là tạo ra một mặt bằng phẳng phiu. Đá của các công trình khác cũng được tận dụng lại. Bên dưới lớp đá lát là nền sân được nện chặt bằng đất sét mịn lẫn sỏi và đá dăm. Theo sử sách đây là nơi đã từng được triều Hồ mở hội cho nhân dân khu vực kinh thành tham dự.

3. Các kiến trúc trong thành


     Hình 11: Đôi rồng đá bên trong thành

Theo ghi chép của sử sách, trong nội thành có nhiều công trình kiến trúc quan trọng như điện Hoàng Nguyên (nơi nhà vua ngự triều); cung Nhân Thọ (nơi ở của Thượng Hoàng), Đông Cung (nơi ở của Thái Tử), cung Phù Cực (nơi ở của Hoàng Hậu), Đông Thái miếu (nơi thờ tổ họ Hồ), Tây Thái miếu (nơi thờ họ ngoại là Trần Minh Tông và Trần Nghệ Tông), đàn Xã Tắc… Nối giữa các công trình này là những con đường lát đá. Các câu chuyện dân gian và các địa danh cũng gợi nhắc đến một số kiến trúc và các khu vực có các chức năng khác nhau, phục vụ cho đời sống sinh hoạt trong thành như Ao Vàng, Ao Gạo, Đội Đèn, Nhà Ngục….Có lẽ đó là các kho tàng, chòi thắp đèn, nơi canh giữ tù nhân. Theo năm tháng, cung điện, lầu gác không còn nữa. Đầu thế kỉ 20, khi khảo sát hiện trạng các di tích ở Thành Nhà Hồ, L. Bezacier đã ghi lại: “Những công trình xây dựng, cung điện, dinh thự khác nhau bằng gỗ bên trong thành trước đây đã hoàn toàn biến mất trên mặt đất. Tuy nhiên, có điều rất thú vị lưu ý rằng các khoảnh ruộng lúa đã trồng lên các nền móng cũ của các bức tường. Khi quan sát trên máy bay còn thấy rõ sự nhô lên trên nền đất các cửa, hình dáng chung của các dinh thự, nền và lối đi rất rõ nét…”. Ở khoảng trung tâm tòa thành, hiện còn lại đôi rồng đá, được phát hiện vào năm 1938 trong lúc làm con đường đi xuyên từ Cửa Nam lên Cửa Bắc (đường 217). Đôi rồng này vốn là một cặp thành bậc cửa của một kiến trúc quan trọng trong thành. Chúng đã bị dịch chuyển khỏi vị trí ban đầu. Đôi rồng đã bị mất phần đầu do chiến tranh. Phần còn lại có thân dài uốn lượn hình sin, mình phủ vảy hoa, bờm dài, bốn chân có móng sắc nhọn...là đặc điểm của rồng tượng trưng cho quyền lực nhà vua ở thời Trần và thời Hồ nói riêng, cho các vương triều Việt Nam nói chung. Đây cũng là cặp rồng kiến trúc Hoàng cung sớm nhất của Việt Nam được phát hiện cho đến nay.

Hiện nay chưa có nhiều cuộc thám sát khai quật khảo cổ học trong thành. Năm 2004 cuộc thám sát khảo cổ học tại khu vực đất cao gần giữa trung tâm thành, có tên Nền Vua, đã phát hiện dấu tích của nhiều phế tích kiến trúc. Chúng bao gồm các nền gạch lát, móng trụ đất trộn gạch và ngói vỡ đầm nát, móng trụ đất sét nện sỏi, lớp gạch ngói vỡ, nền lát gạch, hình vuông, đường cống thoát nước, chân tảng hoa sen… Ngoài ra hơn 19,000 mảnh vỡ và hiện vật thuộc các loại vật liệu kiến trúc (chiếm 98,16%), đồ gốm sứ sành gia dụng và đồ kim loại đã được phát hiện. Với diện tích khai quật còn rất nhỏ, do đó chưa đủ nhận định được quy mô và tính chất của các kiến trúc. Tuy nhiên, bước đầu đã có thể thấy phần lớn các dấu tích kiến trúc này là thuộc thời kì cuối thế kỉ 14, khi các cung điện trong thành bắt đầu được khởi dựng. Đặc điểm vật liệu và kỹ thuật xây dựng của các di tích này rất gần gũi với các di tích cung đình thời Trần ở Thăng Long (Hà Nội), Tức Mặc (Nam Định) và Tam Đường (Thái Bình). Việc tiếp tục nghiên cứu khảo cổ học trong tương lai chắc chắn sẽ xác định được các dấu tích kiến trúc phong phú và hấp dẫn của di tích. Một số dấu tích khác được xác định vào thời kỳ muộn hơn, vào thời Lê (thế kỉ 15-18) chứng tỏ lịch sử lâu dài của di tích.

4. Hồ nước

  Ngoài các kiến trúc được sử liệu (thế kỉ 19) nhắc tới trong thành có núi Thọ Kỳ và Hồ Dục Tượng. Núi nay không còn thấy dấu vết. Việc ghi chép các truyền thuyết dân gian góp phần giải thích tên gọi của những dấu tích hồ nước còn lại ngày nay.  Trong đó, đáng chú ý nhất là dấu tích của bốn hồ nước lớn ở bốn góc thành.  Ở góc Tây Bắc là hồ Dục Thuý, được cho là nằm gần Đông Cung và Tây Cung; ở góc Tây Nam là hồ Bơi Chải; ở góc Đông Bắc có hồ Bán Nguyệt; ở góc Đông Nam có hồ Dục Tượng. Dục Tượng là một hồ lớn, bùn nước lầy lội quanh năm, hồ gần trục đường về phía Cửa Đông. Nhân dân trong vùng kể lại: nước ở hồ này chủ yếu là dùng cho súc vật của kinh đô (trâu, bò, ngựa kéo, ngựa chiến và voi). Bơi Chải là hồ dài nhất, gần bằng một nửa chiều rộng của thành. Diện tích mặt hồ gần 15.000m2. Cũng theo truyền khẩu: Vào dịp đầu xuân khi cây hoa súng và sen chưa mọc, triều đình mở hội bơi chải trên hồ.

Hồ Bán Nguyệt
được cho là ở bên cạnh chính điện Hoàng Nguyên, nơi làm việc của nhà vua cùng các quần thần bàn luận quốc sự. Hồ này cũng rộng và sâu bằng hồ Dục Thuý (khoảng 3.000m2, sâu trên 2m). Hiện nay mặt hồ không còn hình bán nguyệt như lúc ban đầu nữa, nhưng dấu tích còn lại đã góp phần định vị cho điện Hoàng Nguyên và phản ánh cảnh quan xưa của kinh thành.

  Hình 12: Hiện trạng các hồ nước trong thành


5. La thành

  La thành là vòng thành ngoài bảo vệ toàn bộ các kiến trúc và cư dân trong kinh thành. La thành dài khoảng 10km, được xây dựng dựa theo địa hình tự nhiên, cách thành trong khoảng 1-3km, từ núi Đốn Sơn (thuộc xã Vĩnh Thành) đến núi Hắc Khuyển (thuộc xã Vĩnh Long), các núi Xuân Đài, Trác Phong, Tiến Sỹ (thuộc xã Vĩnh Ninh), núi Kim Ngọ (thuộc xã Vĩnh Tiến), núi Kim Ngưu, Tượng Sơn (thuộc xã Vĩnh Quang) và hai con sông là sông Bưởi và sông Mã (Hình 44). Vòng thành này dựa trên địa hình tự nhiên sẵn có, người xưa chỉ gia cố thêm một số đoạn, đắp đất, trồng tre, nối liền những dãy núi, con sông sẵn có. La thành được xây dựng vào tháng 9 năm 1399. Đại Việt sử ký toàn thư chép Hồ Quý Ly:  “sai Trần Ninh đốc suất người phủ Thanh Hóa trồng tre gai ở phía Tây thành, phía Nam từ Đốn Sơn, phía Bắc từ An Tôn đến tận cửa Bào Đàm, phía Tây từ chợ Khả Lãng ở Vực Sơn đến sông Lỗi Giang (sông Mã), vây quanh làm toà thành lớn bọc phía ngoài. Dân chúng ai lấy trộm măng thì bị xử tử”. Có lẽ do sự chuyển dòng của sông và sự xâm hại của thiên nhiên và `con người, nhiều đoạn của La thành không còn nhận thấy nữa. Dấu tích La thành hiện còn lại khá rõ ở hai khu vực thuộc cánh đồng xã Vĩnh Phúc (phía Đông Nam) và cánh đồng xã Vĩnh Long (phía Đông Bắc), với chiều dài tổng cộng khoảng 3km. Phần còn nguyên vẹn nhất thuộc cánh đồng xã Vĩnh Long đã được khoanh vùng bảo vệ nguyên trạng, có mặt cắt dạng hình thang, cao gần 5m, chiều rộng chân thành khoảng 37m, chiều rộng mặt thành khoảng 9,2m. Mặt ngoài dốc đứng, bên trong thoai thoải tạo thành bậc, mỗi bậc cao trên 1,5m. Thành được đắp bằng đất đào ở hai bên, một số nơi gần núi có trộn thêm đất núi và sạn sỏi.


     Hình 13: Hiện trạng một đoạn La thành ở phía Đông Bắc


 6. Đàn Tế Nam Giao
  Đàn Nam Giao được Hồ Hán Thương cho xây dựng vào tháng 8 năm 1402 trên núi Đốn Sơn (dân gian gọi là núi Đún). Lễ tế Giao đầu tiên của triều Hồ được tổ chức cùng năm.

     Hình 14: Dấu tích kiến trúc đàn Nam Giao nhìn từ hướng Đông

Đốn Sơn là một quả núi dài, có hai đỉnh, cách Cửa Nam Thành Nhà Hồ khoảng 2,5km về phía Đông - Nam. Tọa độ địa lý của khu vực này là: 2003’50” vĩ độ Bắc và 105037’40’’ kinh độ Đông. Di tích đàn tế Nam Giao, nay thuộc địa bàn hành chính xã Vĩnh Thành và Tiểu khu 3, thị trấn Vĩnh Lộc, nằm trong lòng hai đỉnh của núi này theo thế dựa vào tay ngai, lọt trong khu vực La thành của di tích Thành Nhà Hồ. Do địa thế sát chân núi, thoải dần về phía Nam nên khu vực Nam Giao quanh năm khô ráo. Quan sát bề mặt hiện tại,  di tích có hình gần vuông, chiều Đông - Tây khoảng 120m, Bắc - Nam khoảng 130m, diện tích khoảng 1,5ha với các lớp nền của đàn tế và các vùng phụ cận có liên quan. Nền cao nhất (nền Thượng) cao 21,70m; nền thứ 2 (nền Trung) cao 20,10m; nền thứ 3 (nền Hạ) cao 17,30m và khu vực phụ cận (nền thứ 4) cao 15,40m so với mực nước biển. Tiếp giáp khu vực này ở phía Nam là các thửa ruộng lúa thuộc cánh đồng Nam Giao có độ cao 10,5m so với mực nước biển.


 

Hình 15: Sơ đồ kiến trúc Đàn Nam Giao


Mặc dù nhiều phần còn chưa được khai quật, nhưng các cuộc khai quật khảo cổ học trên diện tích 5988m2 từ năm 2004 đến năm 2008 đã làm xuất lộ một đàn tế có nền móng còn tương đối nguyên vẹn nhất trong số các đàn Nam Giao được biết đến ở Việt Nam. Cấu trúc của đàn tế này có thể nhận diện qua các dấu vết còn lại như sau: Các lớp tường đàn: đàn Nam Giao Thành Nhà Hồ hiện đã thấy có ít nhất 4 vòng tường đàn, trong đó 3 vòng đã phát lộ móng của các bức tường đá bao xung quanh nền đàn trung tâm.

Tính từ trong ra ngoài, các lớp tường có hình dạng như sau: Lớp tường thứ nhất ở trong cùng hình đa giác, móng được xây dựng bằng đá, với hai đoạn vát chéo  ở góc phía Tây Bắc và Đông Nam .

  Tường dọc phía Tây bắc dài 40,3m. Lớp tường này bao bọc phần trung tâm của cấp nền trung tâm và cấp nền thứ hai. Phía trước cấp nền trung tâm là phần sân nghi lễ. Dấu tích còn lại cho thấy sân nền được xây dựng bằng đá dăm nện chặt, phẳng phiu. Mặt sân được lát bằng 2 loại gạch: Gạch vuông và gạch hình chữ nhật. Chính giữa sân có dấu tích đường đi hướng tới phía trung tâm đàn.

  Lớp tường thứ hai cũng được xây bằng đá, có hình chữ nhật, bao quanh lớp tường thứ nhất. Hai tường dọc (chiều dài) ở hướng Tây Bắc và Đông Nam dài 61,3m, hai tường ngang (chiều rộng) ở hướng Đông Bắc và Tây Nam. Chiều ngang lòng Đàn theo hướng Tây Bắc – Đông Nam là 70,8m.

  Lớp tường đàn thứ ba mới xuất lộ một phần. Ngoài dấu tích của các móng tường chạy thẳng ở một số vị trí của các cạnh, lớp tường đàn này có hai đoạn cong tròn đối xứng ở hai góc Tây Bắc và Đông Bắc ôm lấy toàn bộ các cấp nền 1, 2, 3 và 4.

Dấu tích của một số đoạn móng tường xuất lộ trong các hố thám sát khảo cổ học cho thấy có thể có những lớp tường đàn khác bao quanh khu vực trung tâm. Hi vọng các cuộc khai quật trong tương lai sẽ làm rõ giả thuyết này. Để thoát nước cho đàn tế, một hệ thống cống thoát nước được mở ngầm dưới các móng tường hoặc dưới các con đường. Từ móng tường dọc phía Đông Nam, đã phát hiện 4 cống thoát nước được mở ra ngoài. Các cống nước phần lớn được làm bằng đá, lát đáy bằng đá phiến, đậy bên trên bằng các khối đá xanh trước khi xây tường lên trên. Cống có thành xây bằng gạch chữ nhật, đáy lát đá phiến cũng được phát hiện, được xây ngầm cắt ngang qua đường đi. Mặc dù chưa được bộc lộ rõ, dấu vết của con đường trục chính giữa (“linh đạo”) dẫn lên phần trung tâm đàn tế đã xuất lộ một phần trong cuộc khai quật năm 2004. Con đường này rộng khoảng 3,6m, có thể được chia làm 3 làn. Làn trung tâm cao hơn hai bên. Xen giữa các vòng tường đàn, dấu tích của các con đường đi đã được phát hiện. Giữa vòng tường thứ nhất và thứ hai là con đường rộng 3,1m ở hai phía Tây Bắc và Đông Bắc, rộng 5,37m ở phía Tây Nam. Nền đường được lát đá phiến trên những lớp đất trộn lẫn đá nện chặt. Các lớp gạch ngói và đá xây tường bị đổ, vùi lấp trên bề mặt đường dày tới 0,6m cho thấy có khả năng có các kiến trúc gỗ lợp ngói trong khu vực này. Dấu tích của con đường thứ hai được phát hiện chạy song song với chân nền đàn thứ hai. Đường rộng 1,5m, mặt đường được lát bằng những viên đá phiến và đá vôi, nhiều viên có kích thước lớn. Nền dày 23cm, được đầm một lớp đất màu nâu nhạt lẫn các viên đá dăm trên nền đá gốc màu vàng sẫm. Nối thông giữa các con đường là các cửa được mở ra qua các bức tường ở các vị trí khác nhau. Ít nhất đã phát hiện được dấu tích 4 cửa đối xứng từng đôi một được mở qua vòng đàn thứ hai. Nghiên cứu cấu trúc của một cửa ngách mở trên vòng tường hai phía Tây nam cho thấy cửa quay về phía Tây bắc, rộng l,24m. Các cối cửa cho thấy nó có hai cánh mở vào bên trong. Nền cửa được lát bằng gạch vuông xen gạch bìa. Đá phiến cũng được dùng lát nền. Ngói lợp phát hiện ở cửa phía Đông bắc cho thấy các mái cửa được lợp ngói. Ở góc Đông Nam, trên bậc nền thứ tư của đàn tế, một giếng nước hình vuông có các bậc dật cấp được phát hiện. Hai mạch nước ngầm trong lòng giếng khiến nó luôn đầy nước. Đây được xác định là “giếng Ngọc”, còn dân gian quen gọi là giếng Vua.


 

     Hình 16: Dấu vết giếng Ngọc

Từ các dấu tích kiến trúc nói trên cho thấy, đặc điểm nổi bật của di tích đàn tế Nam Giao trong kỹ thuật xây dựng là việc sử dụng vật liệu đá, gồm hai loại đá vôi và đá phiến cho nhiều mục đích khác nhau: kè móng, xây tường, làm cống, lát nền... Đáng chú ý nhất là kỹ thuật xây tường. Các bức tường có phần chân móng bè rộng với 2 hàng đá phiến mỏng kè đứng (hay được gọi là kè chặn) hai bên để tránh trôi trượt. Tiếp theo là lớp đá phiến kích cỡ không đều, kè vát xiên bên ngoài chân tường. Tường được cấu tạo có dạng hình thang. Phần dưới chân tường khá rộng được ghép  bằng những khối đá to. Mỗi khối đá trong một hàng được ghép sao cho mặt phẳng quay ra ngoài và để trống một khoảng ở giữa, có nhồi thêm đất sét. Phần trên thu hẹp dần đều về cả hai mặt tường, được ghép bằng các khối đá nhỏ hơn và không còn khoảng trống nhồi đất bên trong. Phần đỉnh tường xây thêm 4 hàng gạch chữ nhật và được lợp bằng ngói âm dương. Chân tường ở một số đoạn rộng 2-2,50m, móng tường rộng 1,50m. Tường cao khoảng hơn 2m.

Hình 17: Kỹ thuật kè móng tường

   

     Hình 18: Kỹ thuật xây tường

   

Hình 19: Gạch ốp trang trí


Các di vật bằng đất nung rất đa dạng, xuất lộ dày đặc ở nhiều địa điểm, tập trung nhiều nhất giữa vòng tường  thứ nhất và thứ hai, giữa cấp nền thứ nhất và thứ hai. Đó là các loại ngói mũi sen, ngói âm dương, ngói mũi lá, các loại gạch xây hình chữ nhật, gạch lát nền, gạch ốp trang trí kiến trúc v.v.... Điều đó cho thấy có thể các lớp tường đàn đều được lợp ngói. Hoa văn trang trí gồm nhiều loại, nổi bật nhất là hoa văn hình rồng trên lá đề cân, lá đề lệch, đầu ngói ống và trên nhiều viên gạch, cho thấy có nhiều vị trí của đàn được trang trí công phu, cẩn thận. Ngoài ra còn phát hiện nhiều loại hiện vật khác như đinh sắt, mũi tên, đồ gốm sứ, đồ sành. Các loại hình gốm sứ như bát, đĩa, bình vôi v.v... góp phần tìm hiểu các hoạt động, đặc biệt là nghi lễ cúng tế ở đàn Nam Giao.

Ngọc Quý
  'Trích nguồn Ban Quản lý Di tích Thành Nhà Hồ  www.thanhnhaho.vn"

Trang thông tin điện tử về Di sản Văn hóa Thế giới Thành Nhà Hồ
Hoàng Đế Hồ Quý Ly
Mọi thông tin được sưu tầm và chọn lọc từ Internet
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

 

Video clip

Xem tất cả >>

 

.

Hỗ trợ online

Hỗ trợ thông tin - Tư vấn thiết kế web Mr.Quý
0909115336
Hỗ trợ - Tư vấn Du lịch Ms.Sau
0909175336
Hỗ trợ - Tư vấn Du lịch Ms.Loan
0909115319
.
.

Liên kế website

Số lần xem bài viết : 44669
Hiện có 6 khách Trực tuyến

left direction
right direction